Chị Thanh Hương ơi Sau khi đọc truyện của Nói nói về Trạng là một hay hai
Tôi Lại vô tình đọc được câu truyện này tính copy chuyển qua cho chị
mà không copy được Chị theo như dòng chữ mầu tím phía dưới thì có thể
thấy nguyên cả bài nói có một Tr.ạng Quỳnh thực xem vui lắm đó chị ơi :
Chị viếr mấy chữ Trạng Quỳnh của Nguyễn Đức
Hiền rồi vào google thì thấy hàng chữ màu tím hiến ra như phía dưới đo
Thân mến
LTĐQB
Trạng Quỳnh có thực của Nguye~n đức Hiền có thực :
Mar 26, 2005 - Ông Nguyễn Đức Hiền tác giả cuốn sách này, ông cho biết ông là cháu 8 đời
của Trạng Quỳnh. Như vậy nhờ vào cuốn sách chúng ta biết ...Đọc thêm bài sưu tầm
TRẠNG QUỲNH, ÔNG LÀ AI ?
Hoàng Tuấn Phổ
HTC: Sau
khi đăng bài"Người Thanh Hóa dưới "nửa" con mắt của GS Ngô Đức
Thịnh",bạn Trần Đức Anh-Giảng viên khoa Toán của Trường Đại học sư
phạm Hà Nội có chia sẻ: "Bài viết
rất thú vị, và có nhiều thông tin về Thanh Hóa, vùng đất mà người khác tỉnh như
cháu còn ít biết. Bài báo nói tới truyện Trạng Quỳnh.Cháu không rõ nhân vật này là thực hư thế
nào, và tác giả của truyện là ai? Chúng tôi có hứa với bạn Đức Anh là Thư Phòng sẽ có bài viết của Hoàng Tuấn Phổ nói rõ hơn về nhân vật Trạng Quỳnh. Mời bạn
đọc cùng tham khảo.
Vấn đề Trạng Quỳnh thực chất là mối
quan hệ giữa Trạng Quỳnh với Cống Quỳnh (hương cống Nguyễn Quỳnh) từ lâu đã tổn
tâm huyết nhiều người và tốn bao giấy mực. Ý kiến họ tuy dài, ngắn, nông sâu
khác nhau, cuối cùng cũng đi đến gần nhau. Giáo sư Hà Văn Tấn, trong một chuyên
luận khá công phu "Trạng Quỳnh qua
gia phả họ Nguyễn Thanh Hóa", ông viết ở phần kết "Tin rằng Nguyễn Quỳnh là một người giỏi văn Nôm, thích hài hước,tôi
không hề có ý đồng nhất hương cống Nguyễn Quỳnh với Trạng Quỳnh dân gian. Không
ai ngây thơ làm như vậy. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng Cống Quỳnh hoàn toàn có đủ
tưc cách để trở thành khởi hình lịch sử của Trạng Quỳnh dân gian. Đây là kiến
giải đáng gọi là tiêu biểu, với cách lập luận khôn khéo, chặt chẽ, có sức thuyết
phục.
Nhưng...
Phương pháp sáng tác văn học dân gian
nói chung và truyện cười dân gian nói riêng, không cho phép đồng nhất Trạng Quỳnh với hương cống
Nguyễn Quỳnh, song nỗi ám ảnh về Cống Quỳnh, một nhân vật lịch sử, không thể gạt
bỏ. Vậy cái phần trăm có thật của Nguyễn Quỳnh trong truyện Trạng Quỳnh là bao
nhiêu ? Hay nói cụ thể hơn, trong truyện Trạng Quỳnh, những gì thuộc về Trạng
Quỳnh, những gì thuộc Nguyễn Quỳnh, những gì do dân gian sáng tác ? Kể ra, đòi
hỏi một sự tách bạch như thế, thật là khó. Nhưng có khó đến nỗi không thể giải
mã được chăng ?
Bằng vào gia phả chép về sự tích, hành
trạng của Nguyễn Quỳnh để khẳng định cái cốt cách hoặc cốt lõi Cống Quỳnh trong
nhân vật Trạng Quỳnh là một hướng đúng. Song, phương pháp tối ưu này đã cho ta
một đáp số ngoài dự kiến. Nguyễn Quỳnh trong gia phả khác hẳn, nếu không nói là
hoàn toàn đối lập với Trạng Quỳnh trong truyện kể dân gian. Tuy vậy, ta chưa vội
kết luận: Nguyễn Quỳnh và Trạng Quỳnh là hai con người khác nhau, không có mối
liên hệ gì với nhau. Gia phả và một vài tài liệu khác, dù sao cũng đã định hình
tương đối rõ nét về con người và sự nghiệp Nguyễn Quỳnh, hẳn thế nào cũng để lại
dấu vết, dẫu chỉ là cái bóng rất mờ xa, mà ta không thể không nhận thấy. Rất tiếc,
trong toàn bộ thiên truyện kể rất dài, có tới hơn chín mươi phần trăm là hư cấu
dân gian, là "phi lịch sử", khi ta đối chiếu cuộc đời thực của Nguyễn
Quỳnh. Sau đây là một số ví dụ:
-Cống Quỳnh sinh năm 1677, mất 1748.
Đoàn Thị Điểm, sinh 1705, mất 1748. Khi Quỳnh 28n tuổi, Điểm mới sinh. Và lúc ấy,
Quỳnh đã làm giáo thụ huyện Thạch Thất. Thế mà có cả một "thiên tình sử"
về cậu học trò Quỳnh tinh nghịch, dối trá với cô Điểm con gái cụ Bảng Đoàn.
-Quỳnh chỉ làm quan tới chức cao nhất
là tri phủ. Quỳnh không có cơ sở để mon men tới công việc đi sứ hoặc đón tiếp sứ
Tàu. Hơn nữa công việc bang giao mang tính quốc thể, đâu phải là chuyện vui,
trò đùa, mà Quỳnh hết "Vũ qua Bắc Hải" lại "thi vẽ rồng",
thậm chí cầm quạt gõ cả vào đầu viên sứ giả nhà Thanh, Trung Quốc.
-Quỳnh đả kích vua Lê chúa Trịnh, tính
chất khá quyết liệt, đó là truyện cười dân gian, nên nội dung là những câu chuyện
tưởng tượng, hoang đường. Trong thực tế, Quỳnh chỉ là quan chức thấp, sao dám
và có thể đối với chúa Trịnh cứ như là chỗ bạn bè bằng vai phải lứa, muốn bông
phèng thế nào cũng được.
-Người ta kể chuyện "Trạng chết chúa cũng băng hà"
y như thật, hiển nhiên cũng là chuyện bịa. Vì những năm trước, trong và sau khi Quỳnh mất, chẳng có
ông vua, ông chúa nào "băng hà".
-Người ta cũng kể nhiều về chuyện Quỳnh
đi thi, phá bĩnh trong trường thi, đả kích từ quan chí vua. Nhưng theo gia phả
họ Nguyễn: Quỳnh lúc nhỏ cố chí học hành, lớn lên lặn lội hết khoa này đến khoa
khác, cuối cùng đỗ hạng nhì kỳ thi Sĩ vọng
lấy làm sung sướng lắm. Nguyễn Quỳnh như vậy, cố nhiên đối lập với Trạng Quỳnh.
Và chỉ có Trạng Quỳnh, nhân vật hư cấu theo đặc trưng sáng tác truyện cười dân
gian mới có thể có những hành vi "coi trời bằng vung" như vậy. Bởi luật
thi cử thời xưa rất nghiêm, thí sinh phạm quy có khi bị xử đến tội tử hình, huống
hồ lại cả gan viết lách lăng nhăng, nói năng bậy bạ !
-Một số mẩu chuyện thời niên thiếu của
Trạng Quỳnh như: "Chữ Thái","Đầu to bằng cái bồ","Dê đực chửa"...thể hiện trí
thông minh, tính nghịch ngợm của nhân vật từ khi còn nhỏ tuổi, đãng lẽ gia phả
họ Nguyễn Bột Thượng có thể chép, lại chẳng thấy để lại một mẩu cỏn con nào.
Trong khi đó, ở Thái Bình, người ta coi truyện "Đố chữ Thái" của cậu bé Lê Quý Đôn, ở Nghệ Tĩnh người ta
kể chuyện "Đầu người to bằng cái bồ"
do ông Nguyễn Công Trứ bày trò, và chuyện "Dê
đực chửa" thì dân gian không chỉ gán cho vài ba nhân vật. Tất nhiên
không thể nói ai vay mượn của ai, khi chuyện đã trở thành một kiểu giai thoại
chẳng của riêng ai, có thể gán ghép cho bất cứ ai, miễn là có sự tương đối phù
hợp.
Chỗ vướng mắc của nhà nghiên cứu là
truyện Trạng Quỳnh được sáng tác theo phương pháp dân gian, nhưng lại sử dụng một
nhân vật ít nhiều nổi tiếng (Cống Quỳnh) kèm theo địa chỉ cụ thể (Bột Thượng)
làm xương sống xuyên suốt. Cho nên người ta đã cố gắng chứng minh, tìm ra mối
quan hệ dây mơ rễ má giữa con người có thật ngoài đời và nhân vật hư cấu trong
truyện. Giáo sư Hà Văn Tấn có công khi phát hiện tài liệu "Nam thiên lịch đại tư lược sử" nói ông NGuyễn Quỳnh sinh
thời "Sở trường về văn thơ nôm và giỏi
hài hước", nhưng tiếc thay, tài liệu lại không đưa ra một sáng tác thơ
văn nôm nào, một câu chuyện hài hước nào của ông.
Có một bài thơ nôm trong Truyện
Trạng Quỳnh, người ta dễ tin do Nguyễn Quỳnh sáng tác, bài "Đề
tượng Bà Banh" vì thời gian làm quan ở Thăng Long, ông có nhà trước
chùa Bà Banh:
Khéo
đứng ru mà đứng mãi đây
Khen
ai đẽo đá tạc nên mày
Trên cổ đếm đeo dăm chuỗi hạt
Dưới
chân đứng chéo một đôi giầy
Cởi
váy phất cờ trêu ghẹo tiểu
Để
đồ bốc gạo thử thanh thầy
Có
thiêng sao chẳng ngồi tòa ngọc
Khéo
đứng ru mà đứng mãi đây !
Thực
đáng buồn...cười, khi chúng ta cũng đọc thấy một bài thơ tương tự, với nhan đề "Tượng
Bà Banh" trong "Hồng Đức
quốc âm thi tập":
Chốn
long cung cảnh giới này
Uẩy
ai đứng đầy lõa lồ thay
Miệng
cười hơn hớn hoa in nhụy
Má
đỏ hồng hồng tóc vén mây
Ấy
rắp phất cờ trêu ghẹo tiểu
Hay
toan bốc gạo thử thanh thầy ?
Chẳng
lên bao điện ngồi thong thả.
Khéo
đứng ru mà đứng mãi đây ?
Chắc Nguyễn Quỳnh dẫu bí đến đâu cũng
không "mượn" thơ người xưa, cách mình đến hơn hai trăm năm để thay đi
ba câu, sửa lại vài chữ, thế là thành thơ mình ! Chỉ có dân gian mới có cách
làm như vậy và dám làm như vậy mà không sợ mắc tiếng "đạo văn" !
Lại
có một đội câu đối chọi nhau chan chát:
Trời sinh ông Tú Cát
Đất nứt con bọ hung
Trong
truyện kể rõ đó là ông Cát đỗ Tú tài. Nhưng học vị tú tài sang triều Nguyễn mới
có. Chẳng lẽ Quỳnh chết rồi, một trăm năm sau còn sống lại để đối đáp với ông
Cát tú tài ?
Từ những ví dụ khá điển hình trên, ta
có thể đặt câu hỏi trong truyện Trạng Quỳnh có bao nhiêu câu thơ, câu văn, câu
đối do dân gian vay mượn, thêm bớt, sửa chữa rồi dồn lại cho nhân vật Trạng Quỳnh
của họ ? Dẫu chưa làm được một bảng thống kê chính xác thì cái tài văn nôm của
ông Nguyễn Quỳnh không khỏi ít nhiều người xúc phạm, nếu ta cố tình vơ vào cho
ông mối quan hệ gốc gác.
Truyện Trạng Quỳnh kếu cấu theo kiểu tập
hợp, thống kê hóa nhiều mẩu chuyện. Do
đó mỗi mẩu chuyện vẫn có vị trí độc lập, sức sống riêng của nó. Sự gán ghép này
bao giờ cũng lộ ra khe hở khó liền mạch. Chính những khe hở này giúp ta bóc
tách những mẩu chuyện kể về những nhân vật khác mà dân gian hay người sưu tập
đã đem gán ghép vào cho một nhân vật của mình: Trạng Quỳnh. Sự định hình hóa văn bản, dù chỉ là bước đầu, bao giờ
cũng quan trọng trong quá trình lưu hành. Nó được bồi đắp lên mãi, để câu chuyện
này thêm phong phú, hấp dẫn, để nhân vật được điển hình hóa, sống mãi trong
lòng người đọc.
Nếu trước 1945, Truyện Trạng Quỳnh được
phổ biến tự nhiên, ồ ạt thì sau đó, người ta tiếp nhận nó theo tinh thần có phê
phán. Không ít mẩu chuyện mà nhân vật hiện lên như một kẻ vô học, tục tĩu, tên
bất nhân, mất dạy...dần dần phải lọc bỏ (Quỳnh ăn chuối, Quỳnh với bà ăn mày,
Quỳnh đá bèo,v.v...) Tuy vậy, Truyện Trạng Quỳnh vốn có và mãi mãi còn đó những
hạn chế do hệ tư tưởng giai cấp bình dân, do đặc điểm của nghệ thuật gây cười trong phương
pháp sáng tác dân gian. Ta không làm rõ được mối quan hệ gần hay xa giữa Trạng
Quỳnh với Nguyễn Quỳnh, không tìm thấy một chút vết tích đậm, nhạt của Nguyễn
Quỳnh trong Trạng Quỳnh, thì hãy để cho Trạng Quỳnh vẫn là Trạng Quỳnh và Nguyễn
Quỳnh mãi mãi là Nguyễn Quỳnh. Không vì chuyện mượn họ, mượn tên mà bắt quàng
luôn làm họ.
HTP
-Rút
từ "Trong mắt tôi"-Hoàng
Tuấn Phổ-NXB Văn hóa dân tộc-2000
-Bạn
đọc quan tâm tới vấn đề này có thể tham khảo thêm bài "Ngày xuân nói chuyện Trạng"-Hoàng Tuấn Phổ-Tạp chí Văn hóa dân gian số 2/2002.
Đăng bởi tôn tiền tử vào 26/08/2014 22:53, số lượt xem: 619
Đứa mắc ghẻ ruồi, đứa lác voi,
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi.
Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc,
Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi.
Trên trính có nhà còn lợp lọng,
Dưới chân không ngựa lại giơ roi.
Hèn chi chúng nói bội là bạc,
Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi. Nguồn:
1. Nguyễn Khắc Thuần và Nguyễn Quảng Tuân, Phan Văn Trị: cuộc đời và tác phẩm, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1986, tr. 153
2. Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 2004
Phan Văn Trị 潘文值 (1830-1910), người đời thường
gọi ông là Cử Trị, sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh
Vĩnh Long, nay là xã Thuận Phú Đông, huyện Giồng trôm, tỉnh Bến Tre, đỗ
cử nhân khoa Kỷ Dậu (1849) tại trường thi Gia Định, cùng khoa với
Nguyễn Thông, nhưng nhỏ hơn ông này 3 tuổi, nhỏ hơn Nguyễn Đình Chiểu 8
tuổi. Phan không chỉ là bạn văn chương của hai người, mà còn là bạn
chung lý tưởng chống bọn xâm lược và tay sai. Chán ghét triều đình nhà
Nguyễn thối nát, ông không chịu ra làm quan, mà về dạy học ở làng Bình
Cách (nay thuộc thị xã Tân An, tỉnh Long An), sau dời về Phong Điền,
tỉnh Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, làm thơ cho đến cuối
đời.
Sáng tác của ông có thể chia làm hai giai đoạn: trước khi Pháp xâm lược và sau khi Nam Kỳ rơi vào tay giặc. Giai đ…
Phan Văn Trị (潘文值, 1830 – 1910); còn gọi là Cử Trị là một nhà thơViệt Nam trong thời kỳ đầu kháng Pháp của dân tộc Việt.
Thân thế cuộc đời
Phan Văn Trị sinh năm Canh Dần (1830) tại thôn Hưng Thạnh, huyện Bảo An, phủ Hoằng An, trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre). Thân phụ ông tên là Phan Văn Tấn, "làm quan khâm sai Chưởng tiền dinh Đô thống chế, đã bị triều đình nhà Nguyễn phạt chín đời không được làm quan"[1], thuộc dòng dõi Phan Văn Triệu, một võ tướng đã từng giúp Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, về sau được liệt vào miếu Trung hưng công thần tại cố đô Huế.
Khoảng năm 1847 – 1848, ông đến làng Hạnh Thông Tây, Gia Định (nay là Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh) trú ngụ tại nhà người thân để học. Khoa thi Hương năm Tự Đức thứ 3 (Kỷ Dậu, 1849), ông đỗ thứ 10 trên 17 Cử nhân[2]Năm ấy, ông vừa tròn 19 tuổi. Nhân việc đỗ Cử nhân, nhân dân trong vùng gọi ông là Cử Trị.
Với
tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng buồn vì thời cuộc cứ rối
ren... ông không ra làm quan, mà về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở
làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An, tỉnh Long An). Sau, ông tị địa về Vĩnh Long, rồi về Phong Điền (Cần Thơ). Ở đó, ông dạy học, bốc thuốc và làm thơ...
Phan Văn Trị mất ngày 16 tháng Năm năm Canh Tuất (tức 22 tháng 6 năm 1910) tại làng Nhơn Ái, tổng Định Bảo, quận Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (ngày nay thuộc huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ), thọ 80 tuổi.
Sự nghiệp văn chương
Khu đền thờ và mộ Phan Văn Trị.
Phan Văn Trị sáng tác nhiều nhưng hiện chỉ mới tìm được khoảng
trăm bài bao gồm thơ vịnh vật như: "Con mèo", "Cái cối xay", "Hột lúa",
"Con rận", "Cào cào", "Con cóc",... và chùm thơ họa lại 10 bài thơ của Tôn Thọ Tường.
Trước khi thực dân Pháp
đến, Phan Văn Trị thường vịnh cảnh, vịnh vật để bày tỏ chí hướng, ước
muốn giúp đời, cứu dân hoặc để phê phán những người bất tài, hám danh.
Đến khi quân Pháp chiếm đóng Nam Kỳ, ông làm thơ yêu nước.
Lòng yêu nước ấy chan chứa trong bài thơ tiêu biểu sau:
Thất tỉnh Vĩnh Long
Tò te kèn thổi tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai, dạ xót xa.
Uốn khúc sông rồng mù mịt khói,
Vắng hoe thành phụng ủ sầu hoa
Tan nhà cám nỗi câu ly hận,
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ,
Ngậm cười hết nói nỗi quan ta.
Và khi quân Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa của Đinh Sâm
nổ ra tại Láng Hầm, cạnh Phong Điền. Để tỏ lòng tiếc thương những nghĩa
sĩ đã bỏ mình, Phan Văn Trị đã làm hai câu đối thật xúc động:
Võ kiếm xung thiên, Ba Láng giang đầu lưu hận huyết.
Văn tinh lạc địa, Trà Niềng thôn lý đãi sầu nhan.
Tạm dịch:
Kiếm võ ngút trời, Ba láng sông sâu tràn hận huyết.
Sao văn sa đất, Trà Niềng thôn xóm thảy sầu mang.[3]
Mộ Phan Văn Trị và vợ.
Mặt khác, nói về mảng thơ mang tính chiến đấu của ông, nhà thơ Bảo Định Giang nêu nhận xét:
Sau Nguyễn Đình Chiểu,
Phan Văn Trị xông xáo tiến lên đánh địch như một dũng sĩ. Ngòi bút
trong tay ông trở thành ngọn giáo, nhằm thẳng vào bọn bán nước, đánh rất
đau, khiến đối phương không cựa quậy được...
Và một điều ai cũng rõ: Phan Văn Trị dùng bút đánh Tôn Thọ Tường, không đơn giản như đánh một tên tay sai võ biền dung tục …mà đối thủ của ông là bạn cũ, từng xướng họa với ông ở Thi xã Bạch Mai[4]
ngày nào... Để rồi bằng sức mạnh chính nghĩa, Phan Văn Trị đã giáng cho
đối thủ của mình những đòn bất ngờ, giành thế chủ động từ đầu đến
cuối..."[5]
Trong Bản lược đồ văn học VN, GS. Thanh Lãng cũng đã viết:
Phan Văn Trị là phát ngôn viên cho phe chủ chiến. Chính ông đã
đập vỡ cái thành trì yên lặng của nhà Nho, xung phong đứng ra tố cáo và
kết án phái chủ hòa. Mỗi khi phe địch lên tiếng biện hộ, thanh minh...
là ông lại viết bài vạch trần mưu mô, tâm địa thấp hèn của họ. Cái mới
mà Phan Văn Trị đưa vào văn học thế hệ này chính là ở chỗ đó...[6]
Đề cập vai trò của ông trong cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường, Từ điển văn học (bộ mới) có đoạn:
Bị dư luận lên án gay gắt, Tôn Thọ Tường làm bài thơ "Từ Thứ quy
Tào" để ngụy biện, chống đỡ cho hành động phản dân hại nước của y. Phan
Văn Trị công kích luận điệu của Tường bằng bài thơ "Hát bội".
Cuộc bút chiến dưới hình thức họa thơ nổ ra từ đó. Tôn Thọ Tường
làm 10 bài thơ liên hoàn tự thuật, tán dương sức mạnh vật chất của thực
dân, cho rằng lực lượng kháng chiến non kém khó mà địch nổi, và trong
thực tế cuộc kháng chiến đang lâm vào cảnh bi thảm. Cho nên người trí
thức khôn ngoan là phải biết tùy thời mà ở.
Họa lại những bài thơ ấy, Phan Văn Trị đã mắng Tôn Thọ Tường bằng
những lập luận sắc sảo, bằng những hình tượng độc đáo, rất đắt...Trong
cuộc họa thơ này, Phan Văn Trị đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ
vào cuộc như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Lê Quang Chiểu...[7].
Trích một bài thơ họa:
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây,
Chẳng đã nên ta phải thế này.
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
Cồn Rồng dầu mặc muội tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thủa,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
Lòng ta sắt đá, há lung lay.
Tưởng nhớ
Tấm bia mộ khi xưa đặt trước nấm mộ đất của Phan Văn Trị.
Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Trong số đó có cai tổng Định Bảo tên là Lê Quang Chiểu[8] xem ông như một bậc thầy, nên đã giới thiệu người em gái con cô con cậu là Đinh Thị Thanh[9](1835 – 26 tháng 6 năm 1911) kết duyên cùng ông Trị.
Ông
Chiểu cũng cho người dựng một mái nhà tranh lá cho Phan Văn Trị nương
náu và khi ông Trị mất đã được chôn trên phần đất của vị cai tổng này.
Ngày trước, mộ Phan Văn Trị chỉ là một nấm mồ bằng đất giản dị[10]. Năm 2005,
chính quyền cùng nhân dân đã cho xây dựng đền thờ, trùng tu phần mộ
Phan Văn Trị và cải táng mộ vợ ông ở gần đó về nằm cận kề, trong khu đất
rộng, phía trước là con lộ trải nhựa rộng khoảng 5 m và con rạch Cái Tắc, thuộc ấp Nhơn Lộc I, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ thành một nơi khang trang, rộng rãi và đẹp đẽ.[11] và hàng năm, đều có tổ chức lễ giỗ trọng thể.
Trước 1975,
vì là vùng chịu nhiều bom đạn, nên cơ ngơi bằng gạch bề thế của ông
Chiểu cũng đã đổ nát hết, và căn nhà tre lá của cử nhân Trị cũng không
còn sót lại bất cứ vật dụng gì. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương Phan
Văn Trị, đầu năm 1998, chính quyền huyện Giồng Trôm (tỉnh Bến Tre) cũng đã cho xây dựng nhà tưởng niệm Phan Văn Trị. Công trình đã hoàn thành vào dịp kỷ niệm 89 năm ngày mất của ông (22 tháng 6 năm 1999).
Hiện nay, nhiều trường học, đường phố ở nhiều nơi mang tên Phan Văn Trị.
Ảnh
Chú thích
^Theo "Phan Văn Trị, thân thế và hành trang" của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế, NXB Văn hoá nghệ thuật, Sở Văn hoá Thông tin Bến Tre, 1-1986.
^Vùng Ba Láng - Trà Niềng, khi xưa được gọi là Láng Hầm, nay thuộc thành phố Cần Thơ. Trà Niềng là tên một con rạch ở thị trấn Phong Điền, nằm cách khu đền mộ của nhà thơ Phan Văn Trị khoảng vài trăm mét.
^Bạch Mai thi xã gây được tiếng vang vào khoảng giữa thập niên 1850. Đó là nơi hội tụ của các vị khoa bảng như: Phan Hiển Đạo, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông...
Xu hướng chung của nhóm là ca ngợi thiên nhiên đất nước, đề cao thú vui
của kẻ sĩ. Khi quân Pháp đánh chiếm vùng Gia Định thì thi xã cũng tan
rã luôn.
^Trích lời nói đầu trong tác phẩm Phan Văn Trị, cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Khắc Thuần và Nguyễn Quảng Tuân, Nhà xuất bản T.P HCM, 1986, tr.10-11.
^Thanh Lãng, Bản lược đồ văn học VN (quyển 2), Nhà xuất bản Trình Bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản, tr.56-57.
^Lê Chí Dũng, mục từ "Phan Văn Trị" trong Từ điển văn học, Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr. 1403.
^Sau
này, Cai tổng Chiểu cũng bỏ luôn quyền chức, đứng về phía những sĩ phu
và nhân dân yêu nước. Trong trận bút chiến giữa Phan Văn Trị và Tôn Thọ
Tường, ông Chiểu cũng có làm 10 bài thơ họa lại để đả kích Tôn Thọ
Tường. Ông Chiểu về sau sưu tập thơ văn, tác giả cuốn Quốc âm thi hiệp
tuyển.
^Bà Đinh Thị Thanh trước đây mang họ Trần, nhưng do cuộc khởi nghĩa của Đinh Sâm nổ ra ở Láng Hầm - Ba Láng (Cần Thơ) vào năm 1868.
Lãnh tụ Sâm đã giết chết cai tổng Nguyễn Văn Vĩnh, nên từ đó dòng họ
Đinh phải đổi sang họ Trần vì sợ bị trả thù và bị chính quyền bắt
bớ...Và lúc Phan Văn Trị còn khỏe, cả nhà sống lây lất nhờ nghề dạy học
của ông, cho nên đến khi ông mất, gia cảnh sa sút rất nhanh, bà Thanh
phải làm nghề giã gạo mướn để kiếm sống qua ngày. Sau bà tục huyền với
ông Trụ, một người cùng nghề, nhưng chẳng bao lâu sau thì bà mất. Trước
khi được cải táng, mộ bà nằm cạnh mộ em gái tên Đinh Thị Nhàn, ở gần
trường phổ thông cơ sở Nhân Ái I. Người quản lý khu mộ Phan Văn Trị còn
cho biết: Ông Phan Văn Trị sống với bà Thanh có bốn người con (2 trai, 2
gái; gồm Phan Thị Đào, Phan Phước Tùng, Phan Văn Đường và Phan Thị
Mai), nhưng tứ tán đã lâu. Ở Phong Điền hiện nay không còn con cháu ông
Trị, chỉ thỉnh thoảng có một nhóm người nói là cháu chắt của ông từ
Thành phố Hồ Chí Minh đến thăm viếng...
^Năm 1942,
hai ông là Kiều Thanh Quế và Lê Thọ Xuân đã đến Phong Điền, gặp được
học trò của Phan Văn Trị là Hồ Kim Đính, khi ấy đã già yếu và đang lâm
bệnh nặng. Nhờ ông Đính chỉ dẫn, hai ông mới tìm ra ngôi mộ Phan Văn Trị
đang nằm ở sau nhà ông Lê Quang Thừa. Đó là một nấm mộ "không có bia,
không tam cấp đá, không có gò đất đắp vun lên…" (theo Kiều Thanh Quế, Hoài niệm vong linh Cử Trị: ngôi mả hoang. Tạp chí Tri Tân, Hà Nội, số 75, 1949, tr.19-20). Như vậy, tấm bia rêu phong (ảnh), chắc có sau cuộc viếng thăm này.
^Công trình hoàn thành vào ngày 19 tháng 12 năm 2005
Văn chương miền Nam thời xưa rất hiếm và quý vì giọng văn thật gần gủi với đất nước và con người.
Rất ít người viết được truyện dài hay viết lại được thời đại của thế kỷ 19 bước qua thế kỷ 20, trong đó có nhắc đến tên tuổi những quan lớn nhỏ các tỉnh, làng, huyện và công việc của quan chức, thầy giáo làng và cuộc đời của những anh tay lấm, chân bùn, đi chăn trâu, thả vịt ra sao.
Trước đây, tôi đã có dịp gửi đến các anh chị những tập truyện của Vương Hồng Sểnh, đặt biệt nhất là tài khảo cổ và sự quan tâm đến tình hình chính trị trong và ngoài nước và công ông tìm tòi thu nhập tin tức ở cái thời mà báo chí ngoại quốc không còn đến Việt Nam nữa sau 1975.
Hôm nay, tôi mời quý anh chị đọc bài viết của Xuân Vũ, để qua những tác phẩm của ông hiểu thêm tâm tình người miền Nam và những thú đá gà.
Nghề chơi có lắm công phu, ai mà đã nuôi gà để đem đi đá gà thì phải biết mình đang nuôi loại gà nào, đá ra sao, ăn thua, cá độ đến mức nào.
Qua truyện Buồng Cau Trổ Ngược, mời quý anh chị đọc hay nghe đọc truyện này thật hào hứng và lý thú vô cùng.
Caroline Thanh Hương
Tưởng Niệm Nhà Văn Xuân Vũ
22/03/200400:00:00(Xem: 5012)
Westminster
(Nguyễn Ngân) -- Hơn 150 người đã có mặt tại phòng sinh hoạt Lê Đình
Điểu (nhật báo Người Việt) vào lúc 6 giờ chiều ngày thứ bảy 20 tháng 3
năm 2004 để tham dự buổi tưởng niệm nhà văn Xuân Vũ do Xuân Vũ
Foundation và ái hữu Bến Tre tổ chức.
Ngoài một số chức sắc của Phật
Giáo và Phật Giáo Hòa Hảo người ta nhận thấy có rất nhiều nhân sĩ, trí
thức của vùng Nam Bộ Việt Nam. Điều cũng không mấy lạ nếu chúng ta biết
rằng cố nhà văn Xuân Vũ là một người sinh trưởng và lớn lên tại tỉnh Bến
Tre cựu học sinh trường Le Myre de Vilers Bến Tre. Lễ tưởng niệm được
chị em trường áo tím Gia Long hổ trơ,ï phụ trách về phần tiếp tân và
giới thiệu.
Về phía thân nhân người ta thấy có phu nhân của nhà văn
và một trong số 5 người con của ông là bác sĩ Bùi Thị Minh Phương từ
Houston qua. Cần nói thêm gia đình nhà văn Xuân Vũ có 5 con đều thành
đạt trên đường sự nghiệp và hết lòng hỗ trợ cho ông trong sự nghiệp văn
chương.
Trong bài diễn văn khai mạc ông Châu Văn Để nguyên cựu Dân
Biểu VNCH và đương kim chủ tịch hội Ái hữu Bến Tre là đã nhắc đến một
tác phẩm của thân phụ nhà văn Xuân Vũ là tập "Vạn Lý Vân Trình" mà nhà
văn Xuân Vũ rất trân trọng cũng như thường dùng để làm kim chỉ nam cho
cuộc sống của mình. Với gần 100 tác phẩm lớn nhỏ. Ông được xem như một
nhà văn có sức viết ít ai bì kịp.
Ông Lê Minh Phước một người thân
cận với nhà văn Xuân Vũ nhất từ thủa thiếu thời, là một người em kết
nghĩa với Xuân Vũ đã lật lại tiểu sử của nhà văn với những chi tiết bất
ngờ nhưng thú vị, thể hiện một trạng thái yêu đời nhưng luôn ưu tư với
tình hình đất nước. Nhà văn có tên thật là Bùi Quang Triết, sinh ngày 19
tháng 3 năm 1930, cũng đã có thời đã gia nhập lực lượng Thanh Niên Cứu
Quốc. Nhưng đã sớm nhận rõ được khả năng và những âm mưu không mấy trong
sáng của cái gọi là "Cách Mạng Vô Sản" nên ông đã trở về với đời sống
của một người nông dân.
Phần trình bày của Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
khi điểm qua sự nghiệp văn chương của nhà văn Xuân Vũ. Giáo sư Liêm đã
dẫn chứng nhiều đoạn văn nói lên cái uẩn ức tâm lý vì sự đè nén suy tư
của nhà văn trong một thời gian dài với giai đoạn tham gia kháng chiến.
Tất cả được nhà văn Xuân Vũ bộc lộ trong nhiều tác phẩm mà đặc biệt hơn
hết là trong bộ "Sông Nước Hậu Giang" rất nổi tiếng của ông. Toàn bộ tác
phẩm của nhà văn Nam Bộ này được chia lam nhiều giai đoạn, nhưng đáng
chú ý hơn hết là khi ông đề cập đến những khúc quanh, nhân vật và sự
kiện thời kháng chiến. Trong đó ông vừa là nhân chứng vừa là nhân vật
sống của sự kiện.
Vì hai diễn giả trong phần đầu nói về tiểu sử và
tác phẩm của nhà văn Xuân Vũ kéo dài quá lâu. Sự nghiệp và đời sống của
một người trải qua 74 năm sóng gió không dễ dàng phác thảo một cách đơn
giản. Nhưng trong cùng thời điểm lễ tưởng niệm có nhiều sự kiện khác
cùng xảy ra nên một số quan khách phải kiếu từ ra về sớm.
Phần phát biểu kế tiếp cũng như cảm nghĩ của người tham dự phải cắt bỏ khá nhiều. Tuy nhiên như MC Nhất Phương đã trần tình:
-Dù
sao chúng ta đã đến với Xuân Vũ với tất cả tấm lòng, có hay không có
bộc bạch ý kiến của mình trên diễn đàn thì tình cảm đó vẫn không thay
đổi.
Chúng tôi cũng được biết hiện nay trên "Thư Viện Việt Nam.com"
đã có một số tác phẩm của nhà văn Xuân Vũ được các bạn trẻ đưa lên mạng
lưới và tác phẩm của ông cũng đang được bày bán khá nhiều trong các hiệu
sách khắp mọi nơi. Đọc Xuân Vũ để biết về bối cảnh lịch sử, đất
nước, nhất là về cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ là điều thú vị.
Trong đó chúng ta cũng sẽ có cơ hội hiểu biết nhiều hơn về tính cách của
người dân vùng sông nước Hậu Giang.
Hôm nay - 01-01-2015 - là ngày giỗ năm thứ 11 của cố nhà văn Xuân Vũ. Xin
đăng lại bài tưởng niệm Lê Thy đã viết nhân ngày giỗ năm thứ 6 của Anh.
Ngày này, cách đây 6 năm, môt nhà văn lớn tại
hải ngoại đã qua đời tại thành phố San Antonio, tiểu bang Texas, sau một cuộc
giải phẩu tim bất toàn: anh Xuân Vũ Bùi Quang Triết.
Trước đây đã có rất nhiều người viết về Xuân
Vũ để phê bình, "để tưởng nhớ, nhớ mà buồn thương, tiếc thương một nhà
văn nổi tiếng, một chiến sĩ chống độc tài đảng trị bằng ngòi bút, với cả sức
sống và cuộc sống của mình". (1) trong các bài viết mà Lê Thy đã đăng:
Lê Thy không là nhà văn nên mặc dù có rất
nhiều cảm nghĩ muốn chia sẻ với các bạn đọc nhưng không thể viết thành một bài
gẫy gọn... Hôm nay nhân ngày giỗ thứ 6 của anh Xuân Vũ, Lê Thy xin gởi ở đây
một hoài niệm về cái duyên văn nghệ và cũng là cái duyên "đồng chí"
giữa anh và Lê Thy.
Thú thật với các bạn, lúc anh Xuân Vũ hồi
chánh năm 1971 và được chính phủ VNCH trao giải Văn Học Quốc Gia năm 1973 về
tập "Đường Đi Không Đến", Lê Thy bận bịu gia đình chồng con nên đã bỏ
hẳn cái thú đọc sách như lúc còn đi học. Vì thế Lê Thy không biết anh là ai .
Mãi cho đến năm 2000, khi con cái đã thành
nhân nơi xứ người, Lê Thy tham gia diễn đàn Thư Viện Việt Nam để phát huy lý
tưởng "bảo tồn văn hoá VN" và phụ trách Ban Tu Thư của diễn đàn này,
Lê Thy được ông Tổng Giám Đốc diễn đàn giao cho việc đánh máy lại các sách
trước 1975 . Có sách thì do ông ấy cung cấp, có sách thì Lê Thy mua về hoặc do
chính tác giả gởi tặng Lê Thy và cũng có các bản thảo viết tay của tác giả. Vì
vậy Lê Thy có dịp trở lại với cái đam mê từ lúc còn bé tí: đọc sách . Trong số
các sách và truyện do Lê Thy đêm đêm ngồi đánh máy, Lê Thy đặc biệt thích thú
với tác phẩm "Tôm Hùm Huýt Sáo" của anh Xuân Vũ.
Anh Xuân Vũ không dùng computer hoặc máy đánh
chữ để viết văn. Anh viết tay. Những bản thảo viết tay của anh dày đặc, chi
chít những chữ và chữ như "rồng bay phụng múa". Đúng như anh đã viết
trong bài thơ Một Đời:
Khi Xuân vắng bóng trên đồng lúa
Là Xuân đang ngủ ở trên mây
Giữa trời Xuân hái thêm hương nhụy
Đền ơn cha mẹ, tạ ơn thầy Sắc đẹp uy quyền đều hủy diệt
Thế gian còn lại CHỮ mà thôi Cuộc sống trải ra trang giấy hẹp
Càng viết càng say nét mực ngời
Đất nước cho tôi cây bút phép
Viết đã lâu mà mực chưa vơi
Tổ quốc cầm tay tôi nắn nót
Phập phồng dòng chữ ánh vàng tươi
Đại Nam sống mãi cùng trời đất
Lương tâm của thế kỷ hai mươi
Trong lần cuối cùng và cũng là lần duy nhất
điện đàm với anh để nhờ anh "giải mã" một vài chữ trong THHS mà Lê
Thy chịu thua không đọc được, Lê Thy đã nói đùa với anh trước khi anh qua đời
độ 2-3 tuần:
- "Anh XV ơi, sao anh không xài computer
hoặc đánh máy, anh viết tay làm khổ đôi mắt "mơ huyền" của tôi quá!".
- Tư tưởng, ý nghĩ của tôi tràn trề như suối
phải ghi nhận lại ngay. Tôi mà gõ lọc cọc bằng computer thì "chúng
nó" chạy thoát hết rồi!
Rồi anh nói tiếp:
- Tôi cũng phục cô lắm vì cô có thể "giải
mã" ngần ấy trang sách của tôi .
Lê Thy đã cặm cụi đánh máy ròng rã từ năm
2001, 2002, 2003 . Đánh máy xong in ra, gởi cho ông Tổng Giám Đốc TVVN (tức nhà
thơ Tâm Vô Lệ) gởi bưu điện cho tác giả để sửa chữa . Sở dĩ phải đi lòng vòng
như vậy là vì anh Xuân Vũ lúc ban đầu chưa biết người đánh máy là Lê Thy ở tận
xứ Canada, vì anh cứ tưởng là "ai đó" ở New York . Mãi về sau này vì
thấy anh đã quá yếu, cứ gởi đi gởi về như vậy biết bao giờ mới xong, Lê Thy
phải tìm số điện thoại của anh để trực tiếp liên lạc khi cần . Nhưng chỉ có
duyên được nói chuyện với anh 1 lần rồi thôi !
Trên đây Lê Thy có nói đến cái "duyên văn
nghệ" và "duyên đồng chí"! Chắc hẳn không nói thì các bạn cũng
hiểu cái duyên đồng chí ấy là gì rồi! Đồng chí về sự không đội trời chung với
Cộng Sản . Đồng chí về sự biết nhìn ra cái "xấu xa dị dạng" của cái
gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa . Lần ấy anh đã dí dỏm nói với Lê Thy:
- Cô có biết tại sao có chủ nghĩa Cộng Sản
không? Này nhé, nếu con bé Hélena "chịu" bác Mác mà không đá vào mặt
bác đau điếng và nếu sau đó bà vợ Jenny không giận bỏ về Đức thì sẽ không có
The Capital và La Manifestation de communisme. Vậy mà thiên hạ đua nhau học và
làm theo. Gần 1 thế kỷ mới hết mù .
Lê Thy không biết Hélena là ai, định bụng có
dịp sẽ hỏi lại anh , nhưng....
Đôi dòng hoài niệm anh Xuân Vũ trước khi đăng
tải 3 quyển đầu của bộ Tôm Hùm Huýt Sáo - bộ truyện cuối cùng anh đang viết
dang dở - cống hiến các bạn yêu văn Xuân Vũ Bùi Quang Triết. Tất cả những tác
phẩm của anh Xuân Vũ, Lê Thy đã đưa lên Phòng Đọc Sách của diễn đàn
thuvienvietnam từ nhiều năm trước trong lúc Lê Thy còn phụ trách việc sách vở ở
đó.
Và để kết thúc những lời tâm sự hôm nay, Lê
Thy xin mượn lời của nhà biên khảo Minh Võ và cũng là tri âm của anh Xuân Vũ
trong bài "Tưởng Nhớ Xuân Vũ" nhân ngày giỗ đoạn tang anh
(01-01-2007).
Mong rằng các nhà đấu tranh cho dân chủ tự do
bằng những phương pháp bất bạo động cũng coi anh là chiến hữu và tưởng nhớ tới
anh trong dịp này.
Và bây giờ xin mời các bạn vào truyện tại đây ....
Trong chuồng trâu của ông hương, lũ chăn trâu túm tụm nhau nghe
thằng Tư Cồ nói chuyện tiếu lâm. Nó lớn tuổi hơn cả bọn và biết nhiều
chuyện quỷ quái nhưng bọn nhỏ lại thích nghe.
Tư Cồ tiếng nói ồ- Ồ như vịt đực, xoa tay. cất giọng:
- Đứa nào cho tao điếu thuốc tao nói tiếp, không tao nghỉ.
Thằng
Đặng móc trong lưng ra mớ thuốc rê gói trong lụa mo cau ướt mem vì dầm
mưa, rứt cho thắng Tư Cồ một cục bằng ngón tay kèm miếng giấy nhật
trình. Tư Cồ cuộn rồi kê vô đống ung đốt.
Vừa ho vừa sặc, nó quay ra quơ tay lia lịa và nói:
- Tao kể cho tụi bay nghe chuyện thằng các chú mới cưới vợ về nhà nghe chưa?
- Đừng có kể lại thắng ăn trộm leo lên giàn dòm xuống rồi hụt chưn té nhào nghe!
- Không. Đây là chuyện thằng các chú lấy con vợ ta. Nó vừa múa xong lần thứ nhứt thì con vợ bảo. “Xong hỉ!”
- Vợ nó người gì mà nói "xong hỉ" chớ không nói "xong hả”? Bộ người Huế à?
- Hỉ với hả cũng vậy thôi. Nhưng bởi chữ hỉ mà có chuyện.
Thằng
chồng mệt ngất ngư, lổ tai ù ù nên tưởng vợ nói “song hỉ”, tức là có
hai chuyện vui. Anh ta nghĩ chắc cô nàng muốn mình thêm một đường hườn
nữa. Chàng ta bèn diễn tiếp để vợ hài lòng. Xong, cô vợ lại vỗ lưng đức
lang quân bảo: "Tam hỉ!"... nghĩa là tạm được.
Thằng Tư Cồ hít hai ba hơi liền và lim dim tiếp:
-
Đang mệt. Chàng ta nghe không rõ, lại tưởng cô nàng bảo tam hỉ. Tức là
ba chuyện vui. Chàng ta nghĩ chắc vợ muốn hát thêm một lớp nữa. Tuy uể
oải nhưng cũng ráng làm vui lòng con vợ mới.
Hát xong, người vợ
lại vò đầu chồng và hôn mà thầm thì: “Ngủ hỉ!” Tức là nhứt quá tam đã
vượt mức yêu cầu rồi. Thôi “ngủ đi” cho Khỏe. Nhưng anh chồng các chú
giỏi chữ nho nên lại nghĩ rằng cô Nàng muốn đánh luôn trận thứ tư và thứ
năm.
- Tại sao vậy? Thằng Đang lại hỏi.
- Vì ngũ có
nghĩa là năm. Ngũ hỉ tức năm điều vui! Anh chồng đã bải hoải gân cốt
nhưng cũng ráng ra quân đánh luôn hai trận liền, không chạy làng trận
nào. Nhưng thiên bất dung gian, tấm vách nhà rung chuyển rầm rầm vá sập
xuống đè lên hai người. Cô vợ buột miệng kêu lên:" Sập vách! Sập vách!”
Ông chồng các- chú nổi quạu, lăn ra bì giường, vừa thở hào hển vừa tống
cho cô vợ hào đạp và quát: "ông nội của ngộ cũng không hát nổi mười một
chầu tiếp nữa!”. Cô vợ bị lăn xuống đất, lồm cồm bò lên quát:
- Ai bảo hát mười một chầu? Người ta mệt muốn chất mà cứa há..át
Ông
chồng nổi cáu: "Sập dách tiếng tàu tức mười một chớ gì nữa!”. Cô vợ cú
đầu chồng, bảo: “Người ta nói sập vách là tấm vách sập xuống kia kìa,
ông nội ơi! Chớ ai đòi tới mười một lần, bộ điên hả?”
Cả bọn cùng cười. Tư Cồ tiếp:
- Tụi bay cưới vợ về coi chừng nghe nó nói song hỉ, ngủ hỉ mà hiểu lầm nghe!
Trời
mưa dứt hột. Thay vì mỗi đứa lùa trâu về chuồng, chúng còn ở nán lại
đòi thằng Tư Cồ kể thêm vài chuyện nữa nghe cho khoái lỗ tai. Tư Cồ đang
trớn, bảo:
- Tao kể cho tụi bay nghe nhưng tao yêu cầu một chuyện thì tao mới kể.
Cả bọn rí ố khuyến khích Tư Cồ:
- Chuyện gì cũng được, yêu cầu đi!
- Tao tắm trâu thay cho mầy!
- Tao coi trâu thế cho mày mỗi ngày!
Tư Cồ bình tĩnh bảo:
- Tao chỉ yêu cầu tụi bay nghe xong ra về, đi xuống không được khom khom.
Vừa
lúc đó có tiếng chân đi tới. Cả bọn quay lại nhìn thì thấy ba cô gái
của ông chủ nhà ra đi. Cô nào cũng ăn mặc đẹp và tay xách chiếc ghế đẩu.
Thằng Đặng nhanh nhẩu nói:
- Mấy cổ đi coi hát Tiều!
Tư Cồ thấy ba cô đi qua thì ngưng bặt. Cô gái lớn tên là Tám Cất tiếng hỏi:
- Mấy người làm gì mà cười um vậy?
- Dạ, thằng Đặng nó bị “sập vách” đè đó cô! Tư Cồ làm nghiêm đáp.
- Chuồng trâu đâu có vách mà sập?
- Vậy mà nó sập được mới tàu chớ. Mấy cô coi chừng bị sập vách nghe!
Cô Chín thách thức:
- Vách tường sắp mới sợ, chớ vách lá ăn thua gì.
Tư Cồ bảo:
- Vách gì đè cũng mệt hết. Hổng tin cho "vách sập" một lần coi!
Tụi chăn trâu ó lên cười nhưng cô Mười không hiểu gì nên rướn cổ lên góp phần:
- Hồi năm ngoái tôi ở giữa đồng trời mưa làm sụp chòi, tôi còn không sợ nữa là sập vách.
Cả bọn lại cười. Các cô đi qua còn quay lại cười hùn. Cô Tám giục hai em:
- Thôi, đi riết để vô chiếm chỗ.
Bọn
chăn trâu ngó theo ba cô mướt rượt. Cô nào cũng mặc quần lãnh đen, áo
màu, yểu điệu đi về phía mé, rồi biến dạng trong đám người đi xem hát
đang đổ về phía chợ làng.
Tư Cồ nháy nhó thằng Đặng:
- Mầy dở quá, món ngon dọn ra trước mắt hàng ngày mà không dám hửi chút coi.
-
Nói bậy hoài mày! Người ta con chủ nhà, lại là hương quản trong làng.
Tao là thằng ở đợ, sao dám trèo leo. Mầy giỏi đâu làm thử coi.
-
Để rồi mầy xem, tao sẽ cho mầy cổ “sập vách”! Nhưng cô Tám mạt rổ chằn,
tao nhường cho mầy đó, để tao song hỉ với cô Chín cho coi!
- Cô Mười nhu mì nhủ mỉ và đẹp nhứt nhưng còn nhỏ, để đó, chờ đủ lông đủ cánh tao cho ngủ hỉ liền!
Mấy
thằng cười sùn sục với nhau lấy làm đắc ý. Chỉ thằng Tư Cồ mới dám ăn
nói bừ bãi như vậy, chớ xưa nay bọn chăn trâu Không hề dám phạm thượng
tới Tam Cô bao giờ. Thằng Năm đắc Bư (vì cặp mắt lòi ra như con ốc bưu)
thì lại có ý kiến khác.
- Tao muốn tụi mình bắt thăm. Hễ đức nào
bắt trúng cây thăm dài nhứt thì song hỉ với cô Tám, đứa nào bắt được
cây trung bình thi ngủ hỉ với Cô Chín, còn đứa nào bắt trúng cây thăm
ngắn nhứt thì phải chờ vài năm mới cho cô “sập vách”. Chịu không?
Rồi
thằng Năm Ốc Bưu đi bẻ ba công rơm làm thăm đưa cho cả bọn bắt. Thằng
Đặng bắt trước trúng cô Tám. Thằng Năm Cồ và thằng Năm Ốc Bưu cưới chế
nhạo làm thằng Đặng đập cả bọn chạy tán loạn. Cuộc hòa hợp tiếu lâm cũng
chấm dứt luôn.
Thẳng Đặng tắm hai con trâu sạch bóng, lùa về
chuồng niệc xong rồi lên nhà lớn ăn cơm chiều. Bữa nay trong nhà bếp
vằng bóng ba cô, thiết là vắng vè buồn hiu. Nó lùa nhanh mấy chén cơm
như kéo chà tre qua cổ họng, rồi tuộc xuống ván đi về nhà, không thèm
rửa chén như mọi lần.
Chuyện bắt thăm đùa giỡn nhưng lại gây cho
cậu bé một ấn tượng làm nó buồn buồn. Xui quá! Mình trúng cô vợ mặt rổ,
xấu nhất trong ba cô gái ông Hương Quản mà trong xóm gọi là Tam Nương
buộc Tam Cô.
Thằng Đặng ở đợ năm cho ông Quản, nhưng được về nhà
hàng đêm vì ông chỉ cần nó chăn trâu của ông mà thôi. Sau khi niệc trâu
xong, nó được tự do. Nhà nó ở cách đó chừng ba chục công đất nên việc
đi lại cũng tiện. Nó vừa đi vừa hút gió một chập thì tới. Nó chỉ còn bà
mẹ và một người cậu tên là Năm Mẹo. Nó nhờ
cậu mà lớn khôn hơn là nhờ má nó. Vì bà đã đi bước nữa nên có phần lơ là với con.
Nó
về tới nhà thì thấy trước sau đếu vắng tanh. Nó biết là má nó “đi xóm”.
Đó là việc thường tình nên nó cứ làm những việc hàng ngày theo ý đồ của
nó. Con không cha nhè cột mà dụng!
Nó đi thẳng ra bụi tre thăm
con gà mái Nổ. Đây là “vật yêu quý nhất của nó. Cậu Năm nó xin ở đâu
không biết, đem về giao cho nó và dặn. “Cháu nuôi con gà này may ra trời
giúp vận cháu sẽ trở nên giàu có.” Nó muốn hỏi tại sao nhưng cậu nó vò
đầu nó và cười.” Cháu cứ nuôi đi, đừng hỏi gì hết. Cháu không biết
chuyện gà nòi”.
Hồi đó con gà bằng bắp tay, chưa biết trống mái.
Nó thấy mòng bông dâu dỏ trên đầu, nó tin rằng đó là con gà trống. Lông
nó màu xóm tro, đầu nhỏ, cần cổ trọi lỏi và cặp chân nhỏ rứt như hai
chiếc đũa. Nó lén hốt gạo lức cho gà ăn mau lớn.
Nó nôn nao muốn
trông thấy con gà xám đủ lông đứng giữa sân gáy oai vệ làm lũ gà Tàu
xếp giáp lủi trốn, Nhưng than ôi, càng lớn gà càng trổ mã ra gà mái.. Nó
thối chí, ôm đến nói với cậu Năm: “Gà mái có Món ăn thịt, chớ đá chọi
gì cậu?”
Năm Mẹo cười bảo:
- Gà mái đẻ ra bầy gà con. Gà
con lớn lên thành gà trống gà mái. Mình chọn bắt vài con trống tốt,
cháu hiểu chưa? Những người nuôi gà nòi chuyên nghiệp đều chọn gà nghề
từ gà con. Và nhứt là phải chọn dòng lẫn dòng mẹ, chớ không có bắt may
rủi giữa một bầy gà mà họ không biết gốc ở đâu. Cháu cứ nuôi đi. Con gà
mái nầy là loại gà đẻ hang.
- Đẻ hang là sao, cậu?
- Mẹ
nó không đẻ trong ổ lót rơm êm ấm của chủ nhà, mà nó moi hang đẻ ngoài
vườn. Mà đẻ có một trứng và nở ra nó. Ông Chín Tôn thấy cậu ham gà nòi
nên ổng bảo cậu đem về nuôi, nhưng phải hứa là không để cho nó chết. Ở
đằng nhà cậu có nhiều gà, con nầy lại lẻ mẹ, sợ gà lạ ăn hiếp nên cậu
giao cho cháu nuôi. Nếu trống thì tốt, mái càng tốt hơn. Thay vì mình
chọn có một con trống, mình sẽ
có một bầy gà con, tha hồ mà lựa chọn, coi chưn coi cẳng.
Nghe cậu Năm giải thích, nó đem con gà mái về nuôi tiếp.
Năm
Mẹo đem gà trống tới nhốt chung một bội với con mái, cho ăn Uống no đủ,
nội trong ba ngày bắt con gà trống về. ít lâu sao con gà Má đẻ. Và cũng
chỉ đẻ có một trứng.. Bây giờ nó đang ấp ngoài bụi Tre cuối vườn. Thằng
Đặng ra xem gà nở chưa. Trời mưa đất ướt Trơn trợt. Nó vẹt nhánh cây để
phóng tới. Hình như nó nghe có tiếng gà con kêu “chiết chiết”v ăng vẳng
ở phía bụi tre. Thằng Đặng chạy riết đến nơi, khom xuống nhìn thì con
gà mái xám vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Chà tre phủ bên ngoài, thằng Đặng phải
thò tay qua gai tre mà đưa vùa lúa vào. Một con gà mái ấp tái mét. Nó
xù lông lên tỏ vẻ chống cự khi có người tới gần ổ nó. Rồi nó bắt đầu mổ
lúa ăn. Thằng Đặng ngồi nhìn vào, chờ cho con gà ăn no thì đút vùa nước
mưa vào.
Nó lắng nghe nhưng không thấy tiếng gà con nữa. Nó thò
tay vào nâng con gà mái xám lên để thăm cái trứng. Có tiếng gà con kêu
thì chắc trứng đã khảy mỏ. Nhưng nó không thấy cái trứng ở trong ổ như
mọi lần.
Cách đây vài ngày nó có thăm một lần thì thấy cái trứng
còn nằm ở giữa lòng chảo lót bằng lá tre rất êm. Cậu Năm đã đến và xem
kỹ. Cái trứng màu nâu sậm, có bông lốm đốm. Một đầu rất nhọn, khác hẳn
trứng gà thường. Cậu bảo:
- Mẹ nó đẻ hang, chỉ có một trứng, con cũng đẻ ngoài rừng, cũng chỉ một trứng này, nếu trống thì nhất định nhà nghề.
Bao nhiêu hy vọng thằng Đặng ôm ấp lâu nay. Bây giờ trứng gà đã biến mất.
Thằng
Đặng nghĩ có người ăn cắp. Nhưng người đó là ai? Tại Sao biết con gà
mái xám ấp ở đây để đến thuồn cái trứng? Lầm lũi đi vào nhà, nó ngồi thừ
ra. Có lý nào thằng Tư Cồ và thằng Năm Ốc Bưu thò tay vào mó chà tre
đó? Tụi nó đâu có ham gà nòi.
Cái ước mơ có được nột con gà nghề
ăn vài độ để trở nên giàu có như cậu nó bảo, phút chốc đã biến thành
mây khói. Thằng Đặng sợ cậu rầy. Nó sợ cậu tới trong lúc này.
Đúng như vậy. Cậu nó tới. Cậu nói ngay:
- Cậu tính bữa nay đúng ngày gà nở, cháu có thăm chưa?
- Dạ, cháu thăm rồi!
- Nở, gà lông màu gì?
- Da....à ai ăn cắp mất rồi!
Thằng Đặng òa lên khóc.
Năm Mẹo nói:
- Không có ai ăn cắp đâu. Đừng có nghi oan cho người ta.
Cháu mới vừa thăm, không thấy đâu hết.
-
Vậy là chuột tha. Hoặc là gà nở kêu, chồn đền nghe đến ăn thịt chớ gỉ! Ở
ngoài bờ ngoài bụi, chuột tha trứng, chồn không ăn luôn con mẹ là phước
đó.
Thằng Đặng nói:
- Chuột làm sao mà tha trứng được cậu.
-
Lũ chuột khôn lắm. Mỏ chúng nhọn và nhỏ, không ngặm được quả trứng gà,
nhưng chúng có lối riêng của chúng mà các loại thú khác không có. Một
con ôm quả trứng, rồi một con khác cắn đuôi lôi đi. Cuồi cùng chúng vẫn
đem được quả trứng về tới hang.
- Chuột mà cũng có mưu à?
-
Mưu vặt thôi: mưu chuột. Đám chuột chỉ có cách đục khoét là cùng. Nhưng
lại ngu, mình chỉ cần đặt một cái rập nhẹp là chúng lòi phèo. Bậy quá!
Phải hồi đó mình đem một con mèo nhốt ngoài này, tía tụi chuột cũng
không dám bén mảng tới! Nếu không làm vậy thì mình đem ổ gà vào nhà.
Năm Mẹo tiếc hùi hụi, nhưng cũng gượng kiếm lới an ủi thằng nhỏ:
-
Nhưng không sao, vậy cũng may. Nếu con chồn ăn con mái xám thì mới
nguy. Nó còn đó. Gà mẹ còn thì còn gà con. Để cậu đem con gà trống khác
bảnh hơn cho đổ lứa mới.
Năm Mẹo nói vậy rồi thò tay vô gai tre, định bắt con gà mái ra, nhưng rụt lại ngay.
- Gì vậy vậy? Thằng Đặng giật mình hỏi.
- Cháu phải coi chừng, Dám có ổ rắn hổ nằm dưới ức con gà lắm. Cậu quên dặn cháu nữa.
Thằng Đặng nói ngay:
- Không có đâu cậu, Cháu vừa mới tới thăm, không thấy rắn rít gì hết.
Năm
Mẹo bắt con gà mái ôm vào lòng rồi ngó vô cái ổ. Trống trơn, không có
cái vỏ trứng mà cũng không có dấu vết nào chứng tỏ rằng chồn chuột đã
tới đây.
- Nếu chồn ăn thì phải có vỏ trứng bể trong ổ chớ!
- Chắc gà vừa nở thì chồn tới.
-
Nếu vậy thì khi khảy mỏ, cái vỏ trứng vẫn còn ở đây! Thôi kệ nó, mình
đi vô nhà coi con gà mái có dấu vết gì không. Tội nghiệp, chắc chồn tới
ăn nó đá dữ lắm nhưng không xuể. Gà mái có con dữ lắm. Nếu quạ nhảy
xuống bắt con nó, nó đá cho rụng lông chớ không dễ xớt con nó đâu.
Nghe lời cậu, ôm con gà vô nhà, thằng Đặng lật đật lấy gạo Lức cho ăn. Năm Mẹo rờ bầu diều nói:
- Nó đang no nức. Thôi được, cháu cứ nuôi cho khỏe đi rồi cậu đem con trống qua.
Con mái xám xù lông đi loanh quanh kêu “cục cục” như những cn gà mái kêu "túc" con mới xuống ổ. Năm Mẹo nói:
- Cái kiểu này trứng gà đã nở rồi chồn chuột tới ăn, chớ không phải ăn trước khi nở.
Thằng Đặng sựt nhớ ra và kêu lên:
- Cháu lấy làm lạ sao hồi nảy cháu có nghe tiếng gà con kêu!
- Ở đâu?
- Ở ngoài bụi tre.
- Thiệt không?
- Dạ thiệt. Cháu tưởng là gà nở nên mừng quá chạy suýt vấp té.
- Hay gà con còn đâu đó. Ra coi
Hai
cậu cháu tất cả chạy ra bụi tre. Mẹo lắng nghe. Quả thật, lần này có
tiếng “chiếp chiếp” của gà con lạc mẹ. Năm Mẹo đi chung quanh một nửa
bụi tre, còn nữa bụi kia thì nằm bên đất người khác nên không đi được.
Năm Mẹo xác định nơi phát ra tiếng gà kêu rồi quả quyết:
- Tao chắc nó bị lôi xuống hang chồn hoặc hang rắn ngay bên cạnh ổ gà. Đâu mày vô lấy cái rựa ngoéo và cái cuốc ra cho tao coi.
Thằng
Đặng chạy vút rồi trở ra. Với chiếc rựa trong tay, Mẹo chặt bổ lia lịa.
Một lát sau chà chòm dọn sạch, Mẹo tới gần tận gốc tre. Mẹo nghe tiếng
gà kêu càng rõ hơn. Mẹo dùng mỏ rựa quơ cào lá tre và tìm ra một miệng
hang láng coóng. Mẹo lau mồ hôi và bảo:
- Con gà ở dưới này. Chắc nó còn khỏe nên kêu lớn vậy.
Thằng Đặng hăng hái xông vô:
- Cậu đưa cháu đào mau cứu nó!
Năm Mẹo xua tay:
-
Không được. Cháu càng đào, con gà càng lủi xuống hang giữa bụi tre là
mình cụt tay. Ngoài ra còn có thể cuốc nó đứt hai nữa. Cháu vô nhà lầy
cái nôm và ôm con gà mẹ ra đây!
Thằng Đặng chạy lấy nôm và ôm gà
ra. Năm Mẹo nhốt con gà gần miệng hang. Con gà mái mê con cứ kêu cục
cục. Năm Mẹo và thằng Đặng lùi ra xa ngồi rình.
Thằng Đặng mới biết cậu mình có kinh nghiệm. Nó hỏi:
- Sao rắn không ăn gà con, cậu?
-
Tao chắc đây là rắn hổ. Rắn độc không ăn tạp. Nó chỉ uống sương khuya.
Bụng đói nọc mới độc, cắn là chết. Còn lũ chuột đụng gì ăn nấy, hay cắn
bậy nên không ai sợ.
Hai cậu cháu kiên nhẫn ngồi nhìn bụi tre.
- Tao chắc con gà này là gà nghề. Để chờ nó lớn lên coi.
- Sao con gà ở dưới đó được cậu? –Thằng Đặng vẫn thắc mắc.
Tao
không rõ, nhưng có thể đoán ra như vầy. Con gà mái ấp thấy rắn trong
hang bò ra gần nó thì nó đánh. Rắn cự lại. Hai đàng quần nhau lung tung
làm cái trứng lăn vô hang hoặc con rắn tha xuống đó.
- Miệng rắn nhỏ làm sao ngậm được cái trứng?
- Nó lấy đuôi quấn rồi lôi đi.
Đang
nói chuyện thì bỗng nghe tiếng khù khù. Mẹo nhìn vào Bụi tre thì thấy
một chú chuột cống lông vàng ngoách, chống cự với con rắn đen ngời. Con
rắn xừng bàn nạo lên cao nghệu, bổ tới, làm con chuột thối lui, nhưng nó
vừa thối lui vừa xừng lông cổ lập thế phản công.
Mẹo quèo thằng Đặng nói nhỏ:
- Mày vô lấy chĩa ba đem cho tao!
Chĩa ba dùng chĩa ếch là món khí giới thân thuộc của thằng Đặng, nên nghe cậu bảo, nó chạy thoắt lấy ra ngay. Mẹo xua tay:
- Để coi tụi nó cắn nhau cho nhừ tử rồi mình sẽ hạ thủ cả hai.
Hai
cậu cháu xoay hẳn sự chú ý về phía rắn và chuột. Chuột bị dồn vào thế
bí bèn lao tới ngoạm ngang cổ rắn. Rắng đau điếng người, cuộn mình lên
quấn tròn lấy chuột và lăn khỏi những chà tre đến một bãi cỏ, rồi tháo
chạy. Con chuột bị vo tròn thành một cục, tưởng nó đã bị bóp ngứu xương.
Nhưng không chuột vẫn chổi dậy lao theo tiếp chiến. Rắn ta bèn ngoạm
đùi chuột và vung tít. Chuột
văng ra xa. Máu nhuộm bãi cỏ xanh.
Tắn bò tới định tiêu diệt kẻ thù. Nhưng từ đâu không rõ, ló ra một chú
chuột đen khác, nghinh chiến với rắn.
Chuột kia bị thương bèn
chạy trở lại bãi cỏ nhuộm máu, dùng mỏ moi củ cỏ cú nhai lia lịa, đắp
vết thương. Có lẽ nó trị cả nọc rắn. (Không biết có ai học được bài
thuốc này không?)
Rắn lại xùng bàn nạo cất lên lay thế thượng
phong, xông tới kẻ thù mới. Nhưng anh chàng què đã nhanh nhẹn ngoạm lấy
đuôi rắn lôi ngược.
Rắn không vươn mình tới được nên quay lại
nguập lấy hông chuột què. Thừa cơ, hiệp sĩ đen xông tới tiếp cứu. Rắn
phải tả xông hữu dục. Một lát, chuột què nằm ngay chừ. Chỉ còn cặp kỳ
phùng địch thủ là rắn hổ và chuột cống mung, nhưng chuột liệu bề địch
không nổi, nên đâm đầu chạy bỏ bồ nhà lại đó. Chuột chạy quanh bụi tre,
thấy miệng hang bèn chui ẩn vào. Rắn cắn đuội chuột lôi ra.
Vừa
lúc đó, “phập”, mũi chĩa ba của Năm Mẹo phóng tới dính cả chuột lẫn rắn.
Rắn, chuột khe rú vang, mỗi con mội giọng. Gặp chĩa ba, mội mũi đều có
ngạnh, rắn cuộn mình quấn cán chĩa, còn chuột thì chỉ biết kêu eng éc
như heo. Cuối cùng, cả hai bị lôi ra khỏi bụi tre.
Thằng Đặng kêu lên:
- Còn con gà đâu cậu?
- Chắc nó còn trong đó.
Mẹo quăng cây chĩa còn dính rắn và chuột, để chúng tha hồ vùng vẫy, sút đi đâu mà sợ. Mẹo hỏi thằng Đặng:
- Mầy có nghe tiếng gà kêu nữa không?
- Mất tiêu rồi. Chắc nó chạy tuốt vô giữa bụi tre rồi cậu. Mình phải đào tiếp thôi.
- Ai phá cho nổi bụi tre này.
Hai cậu cháu đang thất vọng thì bổng đâu lại có tiếng kêu chiêm chiếp. Cả hai đều giật mình quay lại.
Thằng Đặng reo lên:
- Con gà ra kia kìa!
- Đâu nào?
- Nó nằm bên ngoài nôm đó cậu.
- Ờ..ơ... lông nó nâu nâu, tiệp với lá tre khô nên nhìn không thấy.
Thằng Đặng lượm con gà lên tay, âu yếm:
- Cưng ra hồi nào vậy cưng?
Mẹo cười:
-
Chắc nó chui ra lúc con chuột cống mung xuất hiện. Mình mê coi nên
không để y. Mẹ nó “túc” hoài thì nó phải ra. Cháu thấy chưa, nếu mình
đào thì làm sao thấu bụi tre.
Thằng Đặng tay ôm gà mẹ, tay xách nôm. Năm Mẹo tay chĩa, Tay cầm gà con. Hai cậu cháu đi vô nhà, Năm Mẹo khoái chí bảo:
-
Ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Mầy đi hái một nắm lá cách, chuột với
rắn, hai con bằm xào một chảo. À quên, mầy giỏi giò chạy tới hú bác Chín
Tôn một tiếng. Bảo là gà nở rồi, mời bác lại coi chân coi cẳng.
- Coi gì gà mới nở cậu?
- Nói vậy chớ rủ ổng lại nhậu chơi. Sẵn đây hỏi ổng về vụ con gà.
Lê Quang Chiểu (1852-1924) là một nhà thơ cận đại Việt Nam. Ông là soạn giả bộ sách Quốc âm thi hợp tuyển được các nhà nghiên cứu văn học xác định là tập thơ chữ Quốc ngữ in đầu tiên ở Việt Nam[1].
Thân thế & sự nghiệp
Lê Quang Chiểu, tục gọi Cai tổng Chiểu (vì làm Chánh tổng), quê ở làng Nhơn Ái, tổng Định Bảo, quận Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (ngày nay là xã Nhơn Ái thuộc huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ).
Ông sinh trong một gia đình giàu có nhờ ruộng đất, thuở trẻ ông là học trò của cử nhânPhan Văn Trị. Trước ông làm việc cho Pháp, giữ chức cai tổng, nhưng sau đó ông xin thôi và đã làm mười bài thất ngôn bát cú liên hoàn có tên là Tự thuật giải chức để giãi bày.
Rảnh rỗi, ông chuyên tâm lo sáng tác thơ. Trong số ấy, có nhiều bài viết nhằm chỉ trích Tôn Thọ Tường (họa mười bài Tự thuật của Tôn Thọ Tường), Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Miêng... và một số bài vịnh sử, vịnh vật khá có giá trị.
Ông cũng có công sưu tập thơ của các sĩ phu đương thời như Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị v.v..[2] và gom góp một số thơ của ông, làm thành bộ thơ có nhan đề là Quốc âm thi hợp tuyển, được nhà xuất bản Claude & Cie in tại Sài Gòn năm 1903.
Vào năm 1912, Lê Quang Chiểu còn có công đem bản văn tuồng hát bội Lý Thiên Long in ra chữ quốc ngữ. Trước đó bản tuồng ở dạng chữ Nôm chép tay, ít người biết. Nhờ việc làm này, tuồng Lý Thiên Long mới được phổ biến rộng rãi đến số đông người ham chuộng văn chương và tuồng hát.
Lê Quang Chiểu là chú ruột của bác sĩ Lê Văn Hoạch (kế vị bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướngNam Kỳ từ tháng 1 năm 1947) và ông có một người "vợ không chính thức" đó là nữ sĩ Trần Ngọc Lầu[3].
Năm 1924, Lê Quang Chiểu mất. Hiện mộ ông ở tại vườn nhà của ông Lê
Quang Thụy, cháu gọi ông Chiểu bằng bác ruột. Nơi ngôi mộ xây hồi 1926
có ghi: Ô. Lê Quang Chiểu - Nguyên nhứt hạng Cai tổng Định Bảo - Từ trần ngày 16 tháng 2 An Nam năm Giáp Tý. Hưởng thọ đặng 72 tuổi (1852-1924).
^Theo Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế, Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản KHXH, 1992, tr.359 và báo Tuổi Trẻ[1]
^Ông
Chiểu đã hết lòng đùm bọc cho người thầy của mình là Phan Văn Trị, khi
sống cũng như khi đã mất. Ngày trước và bây giờ, phần mộ của Phan Văn
Trị vẫn còn nằm trên phần đất của ông. Xem thêm trang Phan Văn Trị.
^Huỳnh Minh, Vĩnh Long xưa (Nhà xuất bản Thanh niên in lại năm 2002, tr. 294) và xem thêm ở đây [2].
^Họa bài Cây Mai của Tôn Thọ Tường. Xem bài xướng ở mục Tôn Thọ Tường.